This is alternative content.

NOISOI.COM.VN

  • Full Screen
  • Wide Screen
  • Narrow Screen
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Tổng quan xuất huyết tiêu hóa

Email In PDF.

Xuất huyết tiêu hóa có thể được biểu hiện bằng 5 hình thức sau:
- Nôn ra máu (Hematemesis) là sự nôn ra máu đỏ tươi hoặc máu cục màu đỏ bầm hoặc màu cà phê.
- Đi tiêu phân đen (Melena) là phân có màu đen như hắc ín có mùi hôi thối.

- Đi tiêu máu là tình tràng đi tiêu ra máu đỏ tươi hoặc màu nâu sẫm.

- Xuất huyết tiêu hóa ẩn: là tình trạng xuất huyết không thể phát hiện bằng mắt thường mà bằng các xét nghiệm phân chuyên biệt (ví dụ xét nghiệm guaiac, đây là xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân, thường được gọi là FOBT – Fecal Occult Blood Test).
- Nhiều bệnh nhân chỉ biểu hiện các triệu chứng của mất máu hoặc thiếu máu như chóng mặt, ngất, đau tức ngực hay khó thở.

1. NGUYÊN NHÂN XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA

1.1. Xuất huyết tiêu hóa trên

Tỷ lệ nhập viện do xuất huyết tiêu hóa trên hàng năm ở Mỹ và Châu Âu xấp xỉ 0.1% và tỷ lệ tử vong khoảng 5-10%. Nguyên nhân tử vong thường là do bệnh nhân có các bệnh lý kèm theo hơn là do mất máu đơn thuần. Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân dưới 60 tuổi không có bệnh kèm khoảng 1%. Ba yếu tố độc lập tiên lượng tử vong ở bệnh nhân nhập viện do xuất huyết tiêu hóa trên là tuổi càng cao, bệnh kèm theo và rối loạn huyết động (nhịp nhanh hoặc hạ huyết áp). Loét dạ dày tá tràng là nguyên nhân thường gặp trong xuất huyết tiêu hóa trên, chiếm khoảng 50% các trường hợp. Tỷ lệ bệnh nhân xuất huyết do dãn tĩnh mạch thực quản chiếm từ 5-30%, tùy theo từng vùng địa lý khác nhau. Ngoài ra nguyên nhân thường gặp nữa là do rách niêm mạc tâm vị (Mallory-Weiss tears), do thuốc chống viêm NSAIDs, rượu. Thông thường những bệnh nhân này có trạng xuất huyết tiêu hóa nhẹ, hiếm khi gây xuất huyết tiêu hóa mức độ nặng.

Nguyên nhân xuất huyết tiêu hóa trên

Nguyên nhân                            Tỷ lệ (%)

Loét dạ dày tá tràng                      35–62
Dãn tĩnh mạch                               4–31
Rách niêm mạc tâm vị                    4–13
Viêm sướt dạ dày tá tràng              3–11
Viêm sướt thực quản                      2–8
Ung thư                                        1–4
Không rõ nguyên nhân                   7–25
Nguồn: Data from Rockall et al; GFLongstreth: Am J Gastroenterol 90:206, 1995; EM Vreeburg et al: Am J Gastroenterol 92:236, 1997; and L Laine: West J Med 155:274, 1991.

1.1.1. Loét dạ dày tá tràng

Nội soi sẽ góp phần đánh giá kích thước, hình dạng của ổ loét từ đó tiên lượng nguy cơ xuất huyết tiêu hóa tái phát. Một phần ba các bệnh nhân có xuất huyết tiêu hóa tiến triển hoặc tổn thương lộ mạch có nguy cơ xuất huyết tiêu hóa trở lại và cần đến phẫu thuật nếu chỉ được điều trị bảo tồn. Việc can thiêp cầm máu nội soi đã chứng tỏ có ích lợi to lớn đối với những bệnh nhân này. Các biện pháp can thiệp nội soi thường sử dụng như tiêm xơ hóa ổ loét, thắt vòng búi dãn tĩnh mạch, tiêm keo vào búi dãn tĩnh mạch dạ dày, cầm máu bằng đông điện, nhiệt điện (electrocoagulation, heater probe)…. Việc can thiệp nội soi giúp giảm nguy cơ xuất huyết tái phát, giảm thời giam nằm viện, tỷ lệ tử vong và chi phí cho bệnh nhân. Ngược lại, những bệnh nhân có đáy ổ loét sạch (Foresst III - theo phân loại Forrest) thì tỷ lệ xuất huyết tái phát chỉ khoảng <1%. Nếu không có lý do nào khác để nằm viện, những bệnh nhân này có thể được điều trị ngoại trú.

Bảng phân loại Forrest: giúp tiên lượng nguy cơ xuất huyết tái phát

Phân loại Forrest

Kiểu tổn thương

Nguy cơ xuất huyết

IA

Tia máu động mạch đang phun

100%

IB

Đang rỉ máu

55% (17 - 100%)

IIA

Mạch máu lộ

43% (8-81%)

IIB

Cục máu đông

22% (14 - 36%)

IIC

Vệt máu đen

10% (0 – 13%)

III

Đáy sạch (giả mạc)

< 5% (0 - 10%)

Thang điểm Rockall (Rockall score): giúp tiên lượng nguy cơ xuất huyết và tử vong

Yếu tố đánh giá

Điểm

Thang điểm
Rockall hoàn chỉnh

Thang điểm
Rockall
lâm sàng

Tuổi

< 60 tuổi

0

60-79 tuổi

1

≥ 80 tuổi

2

Shock

Nhịp tim > 100 lần/phút

1

Huyết áp tâm thu < 100 mmHg

2

Bệnh kèm

Thiếu máu cơ tim, suy tim ứ huyết, các bệnh khác kèm theo

2

Suy thận, suy gan, ung thư di căn

3

Chẩn đoán nội soi

Không tìm thấy tổn thương, rách niêm mạc tâm vị (Mallory-Weiss tear)

0

Loét dạ dày - tá tràng, viêm thực quản

1

Ung thư tiêu hóa trên

2

Nội soi đánh giá nguy cơ xuất huyết

Loét có đáy sạch hoặc vệt máu đen

0

Có máu trong đường tiêu hóa trên, có tổn thương chảy máu tiến triển, lộ mạch, cục máu đông

2

Nhiều nghiên cứu thử nghiệm có kiểm soát ngẫu nhiên (RCT) cho thấy truyền tĩnh mạch Omeprazole hoặc Pantoprazole liều cao (80mg bolus và duy trì liều lượng 8mg/h) sẽ làm tăng độ pH dạ dày lên ngang mức 6-7 và làm tăng tính ổn định của cục máu đông, làm giảm xuất huyết tái phát (nhưng không giảm tỷ lệ tử vong), ngay cả sau khi đã điều trị nội soi ở những bệnh nhân loét có nguy cơ cao (Forrest Ia, Ib, IIa, IIb).

Khoảng một phần ba bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa do loét sẽ có khả năng xuất huyết tái phát trong vòng 1 đến 2 năm. Việc ngăn ngừa xuất huyết tái phát sẽ tập trung chú ý vào 3 yếu tố bệnh sinh quan trọng của loét: Helicobacter pylori, NSAIDs, và acid. Điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori giúp làm giảm nguy cơ xuất huyết tái phát. Nếu bệnh nhân loét do NSAIDs thì phải xem xét việc ngừng sử dụng NSAIDs. Nếu NSAIDs cần phải điều trị tiếp tục thì cần phải phối hợp với PPI, tuy nhiên việc phối hợp này có khả năng làm giảm tác dụng của NSAIDs và không làm giảm hoàn toàn nguy cơ xuất huyết do loét. Cần tính đến khả năng chuyển đổi sử dụng các thuốc NSAID không chọn lọc sang các thuốc ức chế chọn lọc COX-2 (Cyclooxygenasa 2). PPI và Misoprostol có thể được phối hợp để điều trị, tuy nhiên PPI đơn độc thích được sử dụng hơn vì cách uống đơn giản (một lần trong ngày), ít tác dụng phụ hơn (ví dụ như tiêu chảy). Những bệnh nhân có nguy cơ cao (lớn tuổi, có tiền sử xuất huyết tiêu hóa do loét) nên được phối hợp các thuốc ức chế chọn lọc COX-2 với PPI.

1.1.2. Rách niêm mạc tâm vị (Mallory-Weiss tears)

Theo kinh điển, rách niêm mạc tâm vị thường gặp ở những bệnh nhân có tình trạng nôn mửa hoặc ho nhiều trước khi nôn ra máu, đặc biệt ở những người uống bia rượu. Những vết rách niêm mạc gây xuất huyết này thường nằm về phía dạ dày ở tại vị trí đường z (đường nối dạ dày - thực quản, GE junction) và tự cầm máu một cách tự nhiên trong khoảng 80-90% các trường hợp, xuất huyết tái phát chiếm khoảng dưới 5%. Nội soi điều trị được chỉ định trong trường hợp xuất huyết đang tiến triển.

1.1.3. Dãn tĩnh mạch thực quản

Những bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa do dãn tĩnh mạch có tiên lượng xấu hơn những bệnh nhân xuất huyết do loét. Nội soi điều trị tiệt trừ búi dãn đối với những bệnh nhân này sẽ làm giảm được nguy xuất huyết tái phát và tỷ lệ tử vong. Thắt vòng là phương điều trị nội soi được lựa chọn vì có tỷ lệ chảy máu tái phát thấp, tỷ lệ tử vong thấp hơn, ít biến chứng cũng như số lần can thiệp nội soi ít hơn so với phương pháp chích xơ hóa.

Điều trị sớm với Octreotide (50µg liều bolus và duy trì 50µg/h truyền tĩnh mạch từ 2 đến 5 ngày) rất hiệu quả trong kiểm soát tình trạng xuất huyết. Về lâu dài, điều trị với các thuốc chẹn beta không chọn lọc sẽ làm giảm tỷ lệ xuất huyết tái phát.

Các phương pháp điều trị khác cần được xem xét nếu những bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa tái phát và không kiểm soát được bằng nội soi và thuốc. Tạo shunt cửa-chủ trong gan qua tĩnh mạch cảnh (TIPS) làm giảm tỷ lệ xuất huyết một cách hiệu quả hơn nội soi can thiệp, tuy nhiên bệnh não gan và tỷ lệ tử vong cao hơn. Hầu hết các bệnh nhân TIPS sẽ bị tắc shunt trong vòng 1 đến 2 năm do vậy cần phải tạo shunt mới. Vì vậy, TIPS thích hợp nhất cho những bệnh nhân có bệnh lý gan nặng nề và những bệnh nhân đang chờ ghép gan. Những trường hợp nhẹ hơn, xơ gan còn bù thì nên xem xét phẫu thuật giải áp (ví dụ phẫu thuật tạo shunt lách-thận).

Tăng áp cửa còn gây ra dãn tĩnh mạch ở dạ dày, ruột non và đại tràng, bệnh lý dạ dày, ruột non, đại tràng tăng áp cửa.

1.1.4. Viêm sướt xuất huyết dạ dày

Viêm sướt xuất huyết thường được chẩn đoán dựa vào nội soi thấy các tổn thương sướt niêm mạc kèm xuất huyết. Đây là những bệnh lý tổn thương lớp niêm mạc nên thường không gây ra tình trạng xuất huyết nặng. Bệnh thường gặp ở những bệnh nhân sử dụng NSAID, uống bia rượu hoặc do stress. Khoảng 50% bệnh nhân sử dụng NSAIDs lâu dài sẽ có tổn thương sướt niêm mạc đường tiêu hóa (15-30% có loét), trong khi đó xấp xỉ 20% các bệnh nhân uống bia rượu xuất huyết tiêu hóa trên có tổn thương viêm sướt niêm mạc xuất huyết.

Các bệnh nhân có tổn thương niêm mạc dạ dày do stress thường gặp ở những bệnh nhân có stress nặng nề như chấn thương đầu, sau phẫu thuật, bỏng có diện tích trên 30%, các bệnh nội sọ, hoặc các bệnh nhân cần phải thông khí hỗ trợ, rối loạn đông máu. Tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân này rất cao do có bệnh lý nặng khác kèm theo.

Tần suất bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa do stress hoặc do loét giảm xuống rất nhiêu trong thời gian gần đây do việc sử dụng các thuốc tốt hơn cũng như việc đề phòng tích cực hơn. Điều trị dự phòng bằng thuốc cần phải cân nhắc ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao như đã đề cập ở phần trên. Các bằng chứng lâm sàng cho thấy liệu pháp điều trị bằng thuốc kháng thụ thể H2 tĩnh mạch là liệu pháp điều trị lựa chọn, mặc dù sulcralfate vẫn tỏ ra có hiệu quả. Điều trị dự phòng xuất huyết làm giảm nguy cơ chảy máu nhưng không giảm tỷ lệ tử vong.

1.1.5. Các nguyên nhân khác

Các nguyên nhân khác ít gặp hơn gây xuất huyết tiêu hóa trên bao gồm viêm sướt niêm mạc tá tràng, u, dò động mạch vào đường tiêu hóa, các bệnh lý mạch máu [bao gồm bệnh lý dãn mao mạch xuất huyết di truyền (Osler-Weber-Rendu) và bệnh lý dãn mao mạch hang vị dạ dày (GAVE hay còn gọi bệnh dạ dày dưa hấu – watermelon stomach)], tổn thương Dieulafoy (mạch máu bất thường trong niêm mạc chảy máu tại vị trí niêm mạc ống tiêu hóa bị tổn thương), trào ngược niêm mạc dạ dày lên thực quản, chảy máu đường mật (hemobilia) hoặc chảy máu đường mật (hemosuccus pancreaticus).

1.2. Xuất huyết tiêu hóa từ ruột non

Xuất huyết tiêu hóa từ ruột non (vị trí chảy máu phía dưới vùng tiếp cận được của nội soi tiêu hóa trên thông thường) là rất khó chẩn đoán. Điều may mắn là xuất huyết tiêu hóa từ ruột non chiếm tỷ lệ rất thấp. Nguyên nhân gây xuất huyết thường do các bệnh lý dãn mao mạch, u (ung thư biểu mô tuyến, leiomyoma, lymphoma, polyp, carcinoid, u di căn, lipoma) hay các vết sướt niêm mạc do thuốc NSAIDs. Các nguyên nhân ít gặp khác bao gồm bệnh Crohn, viêm mạch, nhiễm trùng, thiếu máu nuôi, dãn tĩnh mạch ruột non, bệnh lý túi thừa, túi thừa Meckel, lồng ruột.

Các vết sướt và loét niêm mạc ruột non do NSAIDs là những tổn thương thường gây xuất huyết tiêu hóa ẩn và mạn tính. Bệnh lý túi thừa Meckel là nguyên nhân chính trong xuất huyết tiêu hóa dưới ở trẻ em. Ở độ tuổi từ 40-50, xuất huyết tiêu hóa ẩn thường do u ruột non, từ 50-60 tuổi thường do dãn mao mạch. Dãn mao mạch nên được điều trị bằng nội soi. Phẫu thuật nếu dãn mao mạch tạp trung vào một đoạn ruột nhất định và thất bại với điều trị nội soi. Mặc dù hợp chất estrogen/progesterone đã được sử dụng trong điều trị dãn mao mạch nhưng các nghiên cứu thủ nghiệm mù đôi cho thấy cách thức điều trị này không có hiệu quả trong ngăn ngừa xuất huyết tái phát. Các tổn thương đơn độc khác như u, túi thừa thường được điều trị bằng phẫu thuật.

1.3. Xuất huyết tiêu hóa dưới (hậu môn - đại trực tràng)

Tỷ lệ nhập viện do xuất huyết tiêu hóa dưới xấp xỉ bằng một phần năm số bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa trên. Trĩ là nguyên nhân hay gặp nhất ở bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa dưới. Tiếp đến là rách niêm mạc hậu môn với các triệu chứng chính là đau hậu môn kèm xuất huyết. Khi các nguyên nhân ở ống hậu môn đã được loại trừ, nguyên nhân thường gặp trong xuất huyết tiêu hóa dưới ở người lớn là bệnh lý túi thừa, dãn mao mạch (vascular ectasia) – đặc biệt hay gặp ở người lớn tuổi, u (chủ yếu là ung thư biểu mô tuyến, polyp), và viêm loét đại trực tràng. Ngoài ra có một số nguyên nhân khác có thể kể đến là viêm trực tràng xuất huyết do xạ trị, chảy máu sau cắt polyp, hội chứng loét trực tràng đơn độc, loét do NSAIDs, chấn thương, dãn tĩnh mạch (chủ yếu ở trực tràng), tăng sản lympho dạng nốt, viêm mạch. Ở trẻ em và lứa tuổi vị thành niên, nguyên nhân thường gặp là bệnh lý viêm loét đại trực tràng và polyp thiếu niên.

Xuất huyết do nguyên nhân túi thừa thường có khởi phát đột ngột, ồ ạt, không đau bụng, vị trí thường gặp là đại tràng phải. Nhiều báo cáo lâm sàng ghi nhận xuất huyết do nguyên nhân túi thừa sẽ tự cầm máu một cách tự nhiên trong khoảng 80% các trường hợp. Tỷ lệ xuất huyết tái phát khoảng 20-25% bệnh nhân. Điều trị bằng Vasopressin tiêm động mạch có thể giúp ích cho việc cầm máu tạm thời. Nếu xuất huyết tái phát hoặc không kiểm soát được, phẫu thuật cắt đại tràng sẽ được chỉ định.

Xuất huyết do dãn mao mạch ờ người lớn tuổi có thể chẩn đoán bằng nội soi và việc điều trị cầm máu nội soi đã chứng tỏ có hiệu quả ở bệnh lý này. Phẫu thuật điều trị xuất huyết tiêu hóa dưới thường chỉ được chỉ định nếu xuất huyết dai dẳng, gây biến chứng nặng nề hoặc tái phát và thất bại với điều trị nội soi hay điều trị nội khoa.

2. TIẾP CẬN ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA

Đo nhịp tim và huyết áp là cách đơn giản nhất và hiệu quả nhất để bước đầu tiếp cận, đánh giá bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa. Mất máu đến một mức nhất định sẽ làm thay đổi nhịp tim, huyết áp và cuối cùng gây nhịp tim nhanh, hạ huyết áp ngay cả khi nằm. Ngược lại, hemoglobin không giảm trong giai đoạn xuất huyết tiêu hóa cấp do việc mất máu sẽ mất cả huyết tương cũng như hồng cầu (mất máu toàn phần). Do vậy, hemoglobin có thể bình thường hoặc giảm nhẹ lúc đầu dù bệnh nhân mất máu mức độ nặng. Sau khi dịch bắt đầu đi vào lòng mạch để tái lập thể tích tuần hoàn thì hemoglobin bắt đầu giảm xuống, nhưng quá trình này có thể kéo dài đến 72h. Những bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa mạn tính có thể có kết quả hemoglobin rất thấp nhưng huyết áp và nhịp tim bình thường.

2.1 Phân biệt xuất huyết tiêu hóa trên và dưới

Nôn ra máu là triệu chứng của xuất huyết tiêu hóa trên (trên dây chằng góc Treitz). Tiêu phân đen chứng tỏ rằng máu đã tồn tại trong đường tiêu hóa ít nhất 14h, vì vậy thường là dấu hiệu của xuất huyết tiêu hóa trên. Tiêu ra máu thường là biểu hiện của xuất huyết tiêu hóa dưới. Tuy nhiên trong một số trường hợp xuất huyết tiêu hóa trên ồ ạt, nặng, thì có thể có triệu chứng tiêu ra máu tươi, trong trường hợp này thông thường bệnh nhân có tình trạng huyết động không ổn định (do mất lượng máu lớn, trong thời gian ngắn).

Xuất huyết ở ruột non có thể có triệu chứng tiêu phân đen hoặc tiêu máu đỏ. Một số triệu chứng khác là tăng âm ruột, tăng NH3 máu (do sự hấp thu máu và protein ở ruột non). Sonde dạ dày không thấy máu có thể có đến 16% các trường hợp xuất huyết tiêu hóa trên do vị trí chảy máu ở tá tràng.

2.2. Chẩn đoán bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa

2.2.1. Đối với bệnh nhân nghi ngờ xuất huyết tiêu hóa trên

Tiền sử bệnh và khám lâm sàng không nên dùng để chẩn đoán xuất huyết tiêu hóa. Đây chỉ là những gợi ý có giá trị trong định hướng chẩn đoán và thái độ xử trí cho bệnh nhân. Nội soi thực quản – dạ dày – tá tràng là thủ thuật lựa chọn đầu tiên đối với bệnh nhân nghi ngờ xuất huyết tiêu hóa trên và đặc biệt trong trường hợp huyết động không ổn định (mạch nhanh, huyết áp tụt), nội soi được ưu tiên chỉ định cấp cứu. Nội soi vừa có thể giúp chẩn đoán nhưng lại vừa có khả năng can thiệp cầm máu cấp cứu. Nội soi sớm cũng có ích lợi ngay cả trong trường hợp xuất huyết mức độ nhẹ vì có được chẩn đoán và thái độ điều trị sớm. Những bệnh nhân có xuất huyết tiêu hóa và nội soi cho thấy nguy cơ cao xuất huyết tái phát (dãn tĩnh mạch thực quản, loét đang chảy máu, có lộ mạch, cục máu đông) thì cần phải can thiệp cầm máu. Những bệnh nhân có nguy cơ thấp (ổ loét có đáy sạch, rách tâm vị không chảy máu, viêm sướt xuất huyết dạ dày…) mà có huyết động ổn định thì không cần phải nhập viện điều trị.

2.2.2. Bệnh nhân nghi ngờ xuất huyết tiêu hóa dưới

Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng đi cầu ra máu và huyết động không ổn định thì cần được phải nội soi tiêu hóa trên để xác định cũng như loại trừ nguồn xuất huyết tiêu hóa trước khi nội soi đường tiêu hóa dưới. Nếu xét thấy cần thiết thì có thể bắt đầu với nội soi đại tràng sigma. Tuy nhiên, việc nội soi đại tràng sigma đôi khi gặp rất nhiều khó khăn do lượng máu trong lòng đại tràng làm cản trở việc đánh giá của nội soi. Việc nội soi chỉ có lợi ích trong trường hợp xuất huyết tiêu hóa mức độ vừa và nhẹ.

Nội soi đại tràng sau khi đã thụt tháo hoặc uống thuốc làm sạch đại tràng là thủ thuật được lựa chọn đối với bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa dưới. Đối với xuất huyết tiêu hóa dưới đang tiến triển, chụp mạch cũng có thể xác định được vị trí chảy máu, thủ thuật này còn có khả năng can thiệp điều trị bằng cách tiêm các chất co mạch hoặc gây tắc mạch. Phương pháp chụp mạch cũng có hiệu quả trong trong một số trường hợp mặc dù tình trạng chảy máu đã ngừng bằng cách đánh giá các cấu trúc mạch máu bất thường như dãn mao mạch hoặc khối u.

2.2.3. Xuất huyết tiêu hóa không rõ nguyên nhân

Xuất huyết tiêu hóa không rõ nguyên nhân được định nghĩa là tình trạng xuất huyết tái diễn cấp hoạc mạn tính mà không tìm ra được nguyên nhân, vị trí xuất huyết bằng nội soi cũng như các phương pháp chẩn đoán x-quang. Nội soi ruột non là phương pháp được chọn lựa để khảo sát toàn bộ ruột non. Nội soi ruột non có thể giúp chẩn đoán 20-40% các trường hợp bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa không rõ nguyên nhân. Nhiều báo cáo cho thấy nội soi viên nang (Video capsule endoscopy) cho phép sát toàn bộ ruột non và có khả năng chẩn đoán nguyên nhân xuất huyết trong 30-65% các trường hợp. Nhược điểm của phương pháp là tỷ lệ bỏ sót tổn thương cao và không có khả năng cap thiệp điều trị. Trong trường hợp không có nội soi ruột non và nội soi viên nang, x-quang ruột non cản quang là phương pháp chẩn đoán thay thế.

Trong trường hợp xuất huyết vẫn tiến triển hay tái phát nhiều lần, chụp nhấp nháy hồng cầu có đánh dấu 99MTc nên được tiến hành. Chụp mạch cũng có hiệu quả ngay cả khi tình trạng xuất huyết có dấu hiệu ổn định.

Khi tất cả các phương pháp trên vẫn không tìm được nguyên nhân thì nội soi trong mổ được chỉ định nếu tình trạng xuất huyết bệnh nhân tái phát nhiều đợt đòi hỏi phải truyền nhiều máu.

2.2.4. Xuất huyết tiêu hóa ẩn

Bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa ẩn có test tìm máu ẩn trong phân dương tính hoặc thiếu máu thiếu sắt. Những bệnh nhân này phải được kiểm tra nội soi đại tràng, đặc biệt những bệnh nhân từ độ tuổi 40 trở lên. Nếu nội soi đại tràng có kết quả âm tính thì nội soi dạ dày sẽ được chỉ định.

Nếu cả hai phương pháp chẩn đoán cơ bản nói trên đều không phát hiện được nguyên nhân xuất huyết thì nội soi ruột non, nội soi viên nang sẽ được cân nhắc chỉ định để tầm soát nguyên nhân, đặc biệt ở những bệnh nhân có thiếu máu thiếu sắt.


Hồ Đăng Quý Dũng - Theo Harrison's Principles of Internal Medicine


You are here: Đào tạo Nội soi điều trị - ERCP Tổng quan xuất huyết tiêu hóa