This is alternative content.

NOISOI.COM.VN

  • Full Screen
  • Wide Screen
  • Narrow Screen
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Giá trị của nội soi cấp cứu xuất huyết tiêu hóa tại phòng mổ ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao

Email In PDF.

                                                       Võ Xuân Quang, Trần Đình Trí, Phạm Hữu Tùng
                                                                          Khoa Nội Soi – Bệnh viện Chợ Rẫy

 I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

     - Xuất huyết đường tiêu hoá là một cấp cứu nội khoa có tỉ lệ tử vong cao, nhất là ở những bệnh nhân lớn tuổi hoặc khi có các bệnh lý toàn thân khác. Nội soi đã chứng tỏ có giá trị cao trong chẩn đoán xác định cũng như điều trị tích cực, giúp hạn chế lượng máu mất cũng như giảm tỉ lệ tử vong.
     - Trong nhiều trường hợp, lượng máu mất quá nhiều dẫn đến choáng hay tụt huyết áp, các nhà nội soi thường do dự trước nguy cơ tử vong trong lúc soi. Những câu hỏi thường được đặt ra là nên soi ở đâu và lúc nào. Các khuynh hướng bảo tồn thường yêu cầu hồi sức nội khoa cho đến khi tình trạng huyết động hoàn toàn ổn định mới tiến hành cuộc soi. Cách tiếp cận mạnh dạn hơn là chỉ định soi sớm sau một thời gian hồi sức tích cực vài giờ và được thực hiện ở phòng mổ. Tuy nhiên, giá trị  và hạn chế của mỗi cách tiếp cận vẫn còn nhiều bàn cải.
     - Tại Bệnh viện Chợ Rẫy, từ nhiều năm nay, chúng tôi đã thực hiện nội soi chẩn đoán và điều trị xuất huyết tiêu hóa theo hướng tích cực và chủ động. Trong báo cáo này, chúng tôi ghi nhận các kết quả đã đạt được trong năm 2003 nhằm đánh giá lại giá trị của khuynh hướng can thiệp nội soi sớm tại phòng mổ.

II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Mục tiêu tổng quát:
     Xác định vai trò chẩn đoán và điều trị của nội soi cấp cứu xuất huyết tiêu hóa ở những bệnh nhân nặng, có nguy cơ tử vong cao được thực hiện tại phòng mổ.
Mục tiêu chuyên biệt:
     - Xác định tỷ lệ chẩn đoán xác định tổn thương bằng nội soi trên nhóm bệnh nhân nặng
     - Xác định tỷ lệ điều trị thành công bằng nội soi trên nhóm bệnh nhân nặng
     - Xác định tỷ lệ tai biến của nội soi cấp cứu

III. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Nghiên cứu mô tả, hồi cứu các hồ sơ bệnh nhân đã được thực hiện nội soi cấp cứu tại phòng mổ của Bệnh viện Chợ Rẫy trong năm 2003 nhằm so sánh kết quả nội soi ở nhóm bệnh nhân nặng với nhóm bệnh nhân có huyết động ổn định và không yếu tố nguy cơ kèm theo.

1. Đối tượng: Bệnh nhân nhập viện trong năm 2003 với lý do xuất huyết tiêu hóa (ói hay tiêu ra máu) được chia thành hai nhóm tùy theo mức độ nặng
     a.Nhóm bệnh nhân soi tại phòng mổ: Có 1 trong các tiêu chuẩn
         - Có choáng hay tụt huyết áp
         - Đang ói máu tươi hay tiêu phân máu ồ ạt
         - Có hơn một bệnh toàn thân kèm theo (nhồi máu cơ tim, suy thận mãn, xơ gan v.v...)
         - Có suy chức năng nặng kèm theo: hôn mê, suy tim, suy hô hấp
Nội soi được thực hiện trong vòng 3h sau khi có chỉ định. Đối với các trường hợp có tụt huyết áp, cuộc soi được tiến hành ngay khi đang hồi sức. Đối với các trường hợp đã có choáng, cuộc soi được tiến hành sau khi bệnh nhân được hồi sức tích cực trong vòng 1- 3 giờ. Bệnh nhân (hoặc thân nhân được giải thích về khả năng tử vong trong khi soi hay phẫu thuật sau khi soi). Các quy trình chuẩn bị được tiến hành đầy đủ như chuẩn bị cho phẫu thuật cấp cứu. Yêu cầu có mặt bác sĩ gây mê và bác sĩ ngoại tổng quát trong khi soi. 
     b. Nhóm bệnh nhân soi tại phòng soi: Các bệnh nhân đang xuất huyết hay vừa xuất huyết nhưng có sinh hiệu ổn định.
2. Phương pháp tiến hành:
     Hai nhóm bệnh nhân được so sánh về các tiêu chuẩn
1. Tỷ lệ chẩn đoán thành công
Chẩn đoán thành công khi xác định được bản chất và vị trí tổn thương gây xuất huyết. Khi cuộc soi thất bại, chẩn đoán dựa vào kết quả phẫu thuật.
2. Tỷ lệ điều trị thành công
Điều trị thành công khi làm ngưng được xuất huyết. Bệnh nhân có thể ra khỏi phòng mổ và trở về phòing hồi sức.
Điều trị thất bại khi:
     - Không thể thực hiện được điều trị nội soi hay có điều trị qua nội soi nhưng thất bại.
     - Bệnh nhân tử vong trên bàn soi hay phải phẫu thuật sau khi soi.
3. Tỷ lệ tai biến
Ngoài các tai biến kinh điển của nội soi như thủng, viêm phổi hít v.v.., hai trường hợp sau cũng đươc ghi nhận là tai biến của nội soi
            - Tử vong trên bàn soi
            - Bệnh nhân tử vong sau khi soi do không được phẫu thuật kịp thời

IV. KẾT QUẢ:
1. Đặc điểm bệnh lý:

 

Nhóm phòng mổ

n=100

Nhóm phòng soi

n=216

Nam/Nữ

78/22

167/49

Tuổi trung bình

58,2 (12-98)

51,3(14 – 85)

Có hơn 1 bệnh toàn thân  kèm theo

92

0

Tri Giác (Mê)

37

0

Choáng

36

0

Hct (TB)

19,9%

29%

Máu truyền trước soi

6,81 (0 –24)

1,2(0-6)

                                Bảng 1:  Đặc điểm bệnh lý của hai nhóm bệnh nhân 

Trong nhóm soi tại phòng mổ có 36 ca có tình trạng choáng trước khi soi.  Sau khi hồi sức, có 14 ca ra khỏi choáng và được soi trong tình trạng huyết áp thấp. Trong 22 ca còn lại, tình trạng choáng vẫn kéo dài cho đến khi chấm dứt soi.

2. Kết quả chẩn đoán:
     - Có 3 trường hợp nội soi qua vết mổ (1 ca u ruột non, 1 ca loét D3, 1 ca loét đại tràng P)
     - Có 3 trường hợp vừa soi dạ dày, vừa soi đại tràng
Kết quả chẩn đoán nội soi giữa hai nhóm không có sự khác biệt (p=0,09)

Vị trí tổn thương

Nhóm phòng mổ (n=100)

Nhóm phòng soi

(n=216)

Dãn tĩnh mạch thực quản-tâm  vị

17 ca(17%)

91 ca (41,9%)

Loét thực quản

3 ca (3%)

7 ca (3,24 %)

Lóet dạ dày

30 ca (30%)

64 ca (29,63%)

Viêm dạ dày xuất huyết

4ca (4%)

3 ca (1,39%)

Loét hành tá tràng

33ca (33%)

44 ca (20,37%)

Loét tá tràng (DII)

3 ca (3%)

1 ca (0,46%)

Các tổn thương khác

4 ca(1 RN, 3 ĐT) (4%)

2 ca (0,93%)

Không phát hiện tổn thương

6 ca (6%)

4 ca (1,9%)

                                                Bảng 2: Kết quả nội soi
3. Kết quả điều trị:

 

Nhóm phòng mổ

Nhóm phòng soi

Điều trị qua nội soi

Điều trị thành công

Điều trị thất bại

50/81 (62%)

38/81(47%)

12/81(15%)

207/216 (95,8%)

202/216(93,5%)

5/216(2,3%)

Không điều trị được

31/81

9/216

Tử vong trong 24h

7/100 (7%)

3/216 (1,4%)

                                                            Bảng 3: Kết quả điều trị

Trong nhóm phòng mổ có 19 ca không chỉ định điều trị:
- 4 ca đang xuất huyết có tổn thương dạng viêm niêm mạc xuất huyết do stress, xảy ra sau phẫu thuật.
- 15 ca có tổn thương đã ngưng xuất huyết.
Khả năng thực hiện điều trị nội soi và kết quả điều trị thành công giữa hai nhóm có sự khác biệt (p<0,01) .

 

Nhóm phòng mổ

Nhóm phòng soi

Chích xơ hóa dãn tĩnh mạch

5/17(29,4%)

12/88(13,6%)

Thắt dãn tĩnh mạch

3/17(17,6%)

76/88(86,4%)

Chích Adrenaline                    Lần 1

Lần 2

Lần 3

42/64 (thành công 30)

0 ca

0 ca

119/123(thành công 114)

12  ca

4    ca

Phẩu thuật cấp cứu

22 ca

6    ca

Phẩu thuật trì hoãn

12 ca

5    ca

                                                      Bảng 4: Chi tiết nội soi điều trị

Trong nhóm soi tại phòng mổ, phẫu thuật cấp cứu được tiến hành ngay trên 18 ca có tổn thương loét to đang chảy máu và 4 ca máu quá nhiều, không quan sát được. Phẫu thuật trì hoãn trên 12 ca được thực hiện sau khi chích cầm máu thất bại. Trong 36 ca có choáng, chích cầm máu được thực hiện trong 20 ca, cầm máu thành công trong 13/20 ca. Phẫu thuật được thực hiện trên 16/36 ca (thực hiện ngay trong 9/36 ca và khi có xuất huyết tái phát sau chích cầm máu trong 7/36 ca).
4. Kết quả tai biến:
Không có trường hợp nào có tai biến liên quan đến nội soi. Tình trạng huyết áp tháp và hạ oxy máu gặp ở hầu hết bệnh nhân nhưng đã được ghi nhận trước khi tiến hành làm nội soi. Tỷ lệ tử vong trong vòng 24 giờ cuả nhóm phòng mổ là 7/100 (7%) và nhóm phòng soi là 3/216 (1,4%), ghi nhận có khác biệt. Trong 7 trường hợp tử vong, có 5 ca không can thiệp được (3 ca hôn mê gan /xơ gan, 2 ca loét nhiều ổ do  stress), 1 ca chích cầm máu thất bại, 1 ca sau phẫu thuật. Cả 7 ca tử vong đều thuộc nhóm có choáng trước khi soi.

V. BÀN LUẬN:
1. Bàn về đặc điểm nhóm nghiên cứu
Hai nhóm nghiên cứu trong hai điều kiện khác nhau nhưng có đặc điểm không tương đương nhau mà có sự khác biệt rõ ràng về mức độ nặng. Vì thế, việc so sánh các kết quả về chẩn đoán và điều trị  sẽ không thật chính xác. Tuy nhiên, do tính chất bệnh lý yêu cầu, chúng tôi không thể triển khai soi đại trà ở phòng mổ cho tất cả bệnh nhân và càng không thể thực hiện soi tại phòng soi cho các trường hợp đang choáng. Do đó, chúng tôi quy định hai yếùu tố nặng và soi tại phòng mổ là tương đương. Trong hai yếu tố này, chúng tôi xác định việc soi ở phòng mổ không trực tiếp thuộc về đặc điểm của bệnh mà chỉ là điều kiện cần thiết để cuộc soi được thực hiện. Vì vậy, mức độ nặng có thể được coi là một biến độc lập để phân tích sự thay đổi về các kết quả của nội soi.

Các yếu tố xác định nặng (hay nguy cơ cao) rất thường gặp trên lâm sàng. Chúng tôi không xem là chống chỉ định cho nội soi cấp cứu nhưng cần có sự quan tâm đặc biệt trong từng trường hợp cụ thể.  Đặt nội khí quản, thở máy và bơm máu trực tiếp là những biện pháp hồi sức tích cực được áp dụng trên nhóm bệnh nhân nặng. Chúng tôi chỉ bắt đầu cộc soi sau khi đã có ý kiến đảm bảo an toàn của bác sĩ gây mê.

Cho đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về ứng dụng nội soi trong xuất huyết tiêu hóa ở Việt Nam [1],[2],[4],[8] nhưng chưa có số liệu nào về nhóm bệnh nguy cơ cao cũng như chưa có báo cáo về nhóm bệnh soi tại phòng mổ. Hầu hết các can thiệp nội soi được tiến hành chủ yếu tại các đơn vị nội soi.

Thời điểm soi cũng là một yếu tố gây nhiều tranh cãi. Hầu hết các tác giả khuyến cáo soi sớm trong vòng 12- 24 giờ sau nhập viện. Những nghiên cứu gần đây còn khuyến cáo các thời điểm sớm nữa. Một nghiên cứu ngẫu nhiên đã ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ tử vong, nhu cầu truyền máu và thời gian nằm viện khi soi sớm trước 6 giờ (trung bình 4.5giờ ) so với trước 24 giờ (trung bình 20 giờ) [10]. Gần đây, Ong T.Z. [7]  ghi nhận chỉ định soi sớm trong vòng 4 giờ là một yếu tố quan trọng để giảm tỷ lệ tử vong cho các bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa có nguy cơ cao . Với quan điểm này, chúng tôi đã chọn thời điểm trong vòng 3 giờ để thực hiện soi cấp cứu tại phòng mổ sau khi có chỉ định. Trên thực tế, cuộc soi được triển khai ngay lập tức, thời gian nêu trên được dùng để triệu tập nhóm hội chẩn (ngoại, nội, hồi sức), chuyển bệnh lên phòng mổ và giải thích cho gia đình, chuyển máy lên phòng mổ và quan trọng nhất là có thời gian hồi sức tăng cường. Nếu choáng không hồi phục sau 3 giờ, chúng tôi vẫn thực hiện cuộc soi thật nhanh trong lúc triển khai phẫu thuật cấp cứu. Nhờ đó, các phẫu thuật viên có được thông tin chính xác trước khi mở bụng. Để có thể thực hiện được điều này, chúng tôi ghi nhận một số điều kiện cần thiết:
     - Sự hợp tác chặt chẻ của đơn vị nội soi, khoa ngoại và phòng mổ
     - Xây dựng tính cơ động cao cho các hệ thống nội soi
     - Tổ chức nhóm nội soi có năng lực và luôn sẳn sàng ở mọi thời điểm

2. Bàn về gía trị chẩn đoán của nội soi tại phòng mổ:

Kết quả nghiên cứu cho thấy nội soi thực hiện ở nhóm bệnh nhân nặng trong các điều kiện khó khăn vẫn có thể giúp chẩn đoán chính xác các thương tổn. Tỷ lệ phát hiện tổn thương là 94% so với 98,1% ở điều kiện thông thường, không khác biệt. Thực tế hiện nay cho thấy  hai trở ngại chủ yếu đối với các trường hợp xuất huyết tiêu hóa nặng.
     - Nhiều cơ sở y tế vẫn chưa mạnh dạn triển khai nội soi tại giường hay tại phòng mổ vì e ngại việc di chuyển thường xuyên sẽ làm hư hỏng thiết bị.
     - Mặt khác, tụt huyết áp và /hoặc choáng thường được xem là tiêu chuẩn chống chỉ định cho nội soi cấp cứu.
Chúng tôi nhận thấy cách tiếp cận tích cực có nhiều lợi điểm:
     -Việc hồi sức bệnh nhân đảm bảo hơn với đầy đủ trang bị tại phòng mổ
     - Khi có chỉ định mổ, cuộc mổ có thể được triển khai trong thời gian nhanh nhất 
     - Việc hội ý giữa người nội soi, người phẫu thuật và người hồi sức giúp chọn lựa được giải pháp tốt nhất trong mọi trường hợp.

Ngoài ra, nội soi tại phòng mổ có thể giúp giải quyết những trường hợp khó chẩn đoán do tổn thương nằm ngoài khả năng khảo sát thông thường. Chúng tôi có 3 trường hợp nội soi ban đầu (soi dạ dày và đại tràng) không tìm thấy được tổn thương. Cuộc mổ sau đó cũng không xác định được vị trí chảy máu. Chúng tôi phải thực hiện nội soi qua vết mổ, qua  chỗ mở ruột non và tìm thấy tổn thương gây xuất huyết ở ruột non. Nội soi trong mổ (operative endoscopy, intraoperative endoscopy, surgical endoscopy) là một kỹ  thuật chẩn đoán xâm lấn đã được một số tác giả nêu ra và chỉ được giới hạn trong những trường hợp tổn thương ở ruột non khó chẩn đoán [9],[11]. Các phương pháp soi ruột non khác như dùng máy soi ruột non chủ động (push enreroscopy), thụ động (sonde enteroscopy) hay dùng viên soi (capsule endoscopy) tuy không xâm lấn nhưng khả năng chẩn đoán thấp hơn nhiều và ít khả năng can thiệp [5][9]. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, do máy soi ruột non không phổ biến nên soi qua vết mổ là một chọn lựa phù hợp. Hiện nay, tại Bệnh viện Chợ Rẫy, nội soi trong mổ đã được chấp nhận như một thủ thuật chẩn đoán cần thiết cho các nhà phẫu thuật. 

Các trường hợp nội soi không xác định được tổn thương chủ yếu do lượng máu quá nhiều, ngăn cản sự quan sát (6%). Tỷ lệ thất bại này không cao hơn so với nhiều số liệu đã công bố. Mặt khác, cũng cần ghi nhận thêm quan điểm tại cơ sở chúng tôi là soi cấp cứu ngay không cần rửa dạ dày.

3. Bàn về giá trị điều trị của nội soi tại phòng mổ:

Trước hết, chúng tôi ghi nhận khả năng điều trị nội soi trên nhóm bệnh nhân nặng thấp có ý nghĩa so với nhóm chứng. Sự khác biệt này thể hiện trên hai mặt: khả năng điều trị được bằng nội soi (6% so với 95,8%) và khả năng điều trị nội soi thành công (47 so với 93,5%). Kết quả này thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu tổng quát không tính đến mức độ nặng của bệnh nhân, tỷ lệ thành công của nội soi thường được ghi nhận rất cao (80-90%), kể cả ở trong nước và ngoài nước [1],[2],[4],[6],[8].

Các nguyên nhân dẫn đến khả năng điều trị thấp và tỷ lệ thành công thấp có thể ghi nhận như sau:
      - Tính chất tổn thương: lớn, xuất huyết nặng
      - Tình trạng bệnh nhân nặng, đòi hỏi can thiệp chắc chắn thành công
      - Máu quá nhiều, cản trở thao tác nội soi

Giá trị của nội soi thể hiện qua các khía cạnh:
- Giải quyết được một số trường hợp nặng: Trước năm 2002, chúng tôi giữ quan điểm chống chỉ định soi khi đang hôn mê  hay khi có choáng. Cách giải quyết thường dùng là mổ cấp cứu ngay hoặc cố gắng hồi sức đến khi tử vong hay hồi phục. Tuy nhiên, số bệnh nhân choáng có thể hồi phục không nhiều khi tình trạng xuất huyết còn tiến triển bên trong và các bác sĩ ngoại khoa thường từ chối cuộc mổ khi nguyên nhân bệnh không rõ ràng với tình trạng chung quá nặng. Trong nghiên cứu này, chúng tôi có 36 ca choáng (trong đó 14 ca tạm thời nâng được huyết áp tối đa > 70mm Hg trước khi soi), điều trị nội soi thành công trong 13 ca , phẫu thuật cấp cứu sau khi soi 16 ca và chỉ có 7/36 ca tử vong (19,4%). Hiện tại, chúng tôi xác định các yếu tố hôn mê, suy hô hấp không phải là chống chỉ định trong khi choáng nên được xem là chống chỉ định tương đối.
- Thực chất, các số liệu tổng quát cho thấy chỉ định nội soi ở phòng mổ đã có định hướng phẫu thuật ngay từ đầu. Có sự khác biệt rõ về tính chất bệnh của hai nhóm: tỷ lệ bệnh dãn tĩnh mạch chỉ là 17% ở nhóm phòng mổ so với 41,66% ở nhóm phòng soi. Như vậy, khi trên lâm sàng đã có hướng chẩn đoán xơ gan tăng áp cửa, dù tình trạng nặng, bệnh nhân vẫn được điều trị nội hơn là chỉ định soi cấp cứu tại phòng mổ. Như vậy, nội soi đóng vai trò như một bước đệm để cuộc mổ được thực hiện chính xác.
- Ngoài ra, khi tình trạng nặng gây ra do có nhiều bệnh lý toàn thân phối hợp, vai trò của xuất huyết tiêu hóa trong bối cảnh chung rất khó đánh giá và chỉ định phẫu thuật nhiều khi là yếu tố thúc đẩy đưa đến tử vong. Cụ thyể, trong nhóm soi ở phòng mổ, chúng tôi ghi nhận có 15 ca (15%) có tổn thương gây xuất huyết nhưng đã tạm ổn và không phải là yếu tố chính dẫn đến bệnh cảnh lâm sàng nặng. Cũng chính vì thế, chỉ định nội soi điều trị đã không được đặt ra. Như vậy, nội soi trong trường hợp này còn đóng vai trò lọc ra những đối tượng không phù hợp với phẫu thuật và giúp được những chỉ định mổ không cần thiết.

4. Bàn về tai biến:
Trong nhóm bệnh soi tại phòng mổ có nhiều trường hợp tụt huyết áp và hạ oxy máu nhưng chủ yếu liên quan đến bệnh căn bản và tình trạng mất máu nên chúng tôi không ghi nhận là biến chứng của nội soi. Mặt khác, nhờ có sự phối hợp chặt chẽ với gây mê và bác sĩ ngoại tổng quát (luôn có mặt trong cuộc soi), chúng tôi không có trường hợp nào tử vong trong khi soi. Tỷ lệ tử vong trong 24 giờ cao hơn có ý nghĩa so với nhóm soi tại phòng phản ảnh tình trạng nặng của bệnh lý chứ không gây ra do thủ thuật soi. Như vậy, chúng tôi cho rằng chỉ định soi khẩn cấp trong điều kiện phối hợp chặt với bác sĩ ngoại khoa và gây mê vẫn là một chỉ định an toàn và chấp nhận được ngay cả khi đã có choáng hay có tụt huyết áp.    

VI. Kết luận:

Nội soi là một phương tiện hữu ích trong cấp cứu xuất huyết tiêu hóa. Tuy nhiên, giá trị của nội soi cấp cứu thay đổi nhiều theo cách áp dụng ở từng trung tâm. Tại Bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi đề xuất nội soi sớm tại phòng mổ trong vòng 3 giờ đối với các trường hợp nặng (choáng, nhiều bệnh phối hợp, suy chức năng cơ quan...). Kết quả nghiên cứu cho thấy nội soi giúp chẩn đoán chính xác tổn thương nhưng khả năng điều trị có bị hạn chế. Sự phối hợp chặt chẻ với phẫu thuật viên và nhân viên gây mê hồi sức giúp đảm bảo sự an toàn của thủ thuật và cho phép thực hiện phướng pháp chẩn đoán xâm lấn như nội soi qua vết mổ. 

VII. Tài liệu tham khảo

 1. Lê Quang Quốc Ánh - Nội soi chích cầm máu cấp cứu trong xuất huyết tiêu hóa do loét dạ dày tá tràng - Hội thảo chuyên đề bệnh lý tiêu hóa Bệnh viện Chợ Rẫy 1996.
2. Trần Ngọc Bảo Cầm máu qua nội soi với Adrenaline tiêm tại chỗ trong xuất huyết tiêu hóa do loét dạ dày tá tràng –Hội nghị khoa học kỹ thuật-Bệnh viện Nhân Dân Gia Định- 1999: 55-58
3. Bosset V., Gonvers J.J., Froehlich F., Dubois R.W., Burnand B., Vader J.-P.- Appropriateness of Gastroscopy: Bleeding and Dysphagia- Endoscopy 1999  31-8-615-622
4. Phạm Xuân Hội Điều trị cấp cứu cầm máu ổ loét dạ dày bằng phương pháp chích cầm máu với Adrenaline & Polidocanol  qua n?i soi - Sinh hoạt khoa học kỹ thuật BV Bình Dâân số 8.
5. Mallery S., Vandam J.- Endoscopic Practice at the Start of the New Millennium – Gastroenterology, 2000;118:S129–S147
6. Marek T.A-GastroIntestinal Bleeding -Endoscopy 2001; 33: 920-929
7. OngT.Z.,Yeoh K.G.,Ho K.Y-Emergency endoscopy within 4 hours is an independent  predictive  factor  for reduced mortality in patients presenting  with high risk upper GI bleeding- Gastrointestinal Endosc 2004; 59:5, pAB 162
8. Võ Xuân Quang - Điều trị xuất huyết tiêu hóa trên: Chích cầm máu qua nội soi - Y học Thành phố Hồ Chí Minh , 2002 ,Tập 6 , Phụ bản số 3 , tr  431-437
9. Rosch T.-United European Gastroenterology week 2003: Perspectives in Gastrointestinal endoscopy –Endoscopy 2004,36,1:59-67
10. Smith JA, Bruggen JT-A prospective, randomized, controlled trial assessing the benefit of upper endoscopy performed in hemodynamically stable patients with acute upper gastrointestinal bleeding within six hours of presentation to the emergency department {abstract] -Gastrointest Endosc  2001; 53: AB214 
11. Waye J.D-Small Bowell endoscopy -Endoscopy 2003; 35,1:15-21 

Tóm tắt:

Mục đích nghiên cứu:  Xác định khả năng chẩn đoán và điều trị của nội soi trong các trường hợp xuất huyết tiêu hóa nặng

Phương pháp: Hồi cứu tất cả bệnh nhân được nội soi cấp cứu xuất huyết tiêu hóa tại Bệnh viện CHợ Rẫy trong năm 2003. Chia thành 2 nhóm soi ở phòng mổ và soi ở phòng soi.
Tiêu chuẩn phân nhóm dựa vào mức độ nặng (choáng, bệnh toàn thân và biểu hiện suy cơ quan)

Kết quả: 100 ca được soi tại phòng mổ so sánh với 216 ca soi tại phòng soi 

 

Nhóm soi tại phòng mổ

n=100

Nhóm soi tại phòng soi

n=216

p

Hct

19.9%

29%

 

Choáng

36%

0%

< 0,01

Chẩn đoán xác định

94%

98.1%

0,09

Điều trị nội soi

62%

95,8%

<0,01

Điều trị thành công

47%

93,5%

<0,01

Tỷ lệ tử vong trong 24 giờ

7%

1,4%

 

Có 3 ca được thực hiện nội soi qua vết mổ .Trong 36 ca có choáng, điều trị nội soi thành công trong 13/36 ca và phẫu thuật cấp cứu trong 16/36 ca, có 7 ca tử vong.

Kết luận:

Nội soi cấp cứu sớm tại phòng mổ  trên nhóm bệnh nhân nặng là một khuynh hướng tiếp cận tích cực. Kết quả nghiên cứu cho thấy nội soi giúp chẩn đoán chính xác tổn thương nhưng khả năng điều trị có bị hạn chế. Sự phối hợp chặt chẻ với phẫu thuật viên và nhân viên gây mê hồi sức giúp đảm bảo sự an toàn của thủ thuật và cho phép thực hiện phướng pháp chẩn đoán xâm lấn như nội soi qua vết mổ.

Summary:

Study Aims: Evaluate the diagnostic ang therapeutic value of urgent endoscopy in cases of seve GI bleeding

Methods:  We reviewed all emergency cases  scoped due to GI bleeding at ChoRay Hospital in 2003. Two groups were separated based on the severity of patients (shock, system diseases, system malfunction) . The endoscopic diagnosis and treatment results were compared  and evaluated.

Results: 100 cases were scoped at the operating room compared with 216 cases scoped at the endoscopy unit.

Group

Operating room

n=100

Endoscopy room

n=216

p

Hematocrit

19.9%

29%

 

Hypovolemic shock

36%

0%

< 0,01

Positive diagnosis

94%

98.1%

0,09

Endoscopic treatment

62%

95,8%

<0,01

Successful endoscopic treament

47%

93,5%

<0,01

24h mortality

7%

1,4%

 

There were 3 cases of  intraoperative endoscopy .In 36 cases of shock, endoscopic treatment were succesful in 13/36 cases and urgent operation were performed in 16/36 cases. 7 cases died during the first day.

 Conclusion: Urgent endoscopy  in the operating room for high risk patients was an intensive approach of endoscopy. ur results showed similar diagnostic value as in previous reports. However, the endoscopic treatment were significantly limited. Te good cooperation of endoscopist, surgeon and anesthesiologist assured the procedure safety and allowed us to do more invasive examination such as intraoperative endoscopy.

You are here: Nghiên cứu KH Các đề tài NCKH Giá trị của nội soi cấp cứu xuất huyết tiêu hóa tại phòng mổ ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao